http://tuongphatchieuphuong.com/upload/product/388187949098.jpg
Ðức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát là một vị Cổ-Phật trong đời quá khứ với danh hiệu là Chánh-Pháp-Minh Như-Lai, vì hạnh nguyện đại bi muốn cứu độ chúng-sanh và làm cho chúng-sanh được an lạc nên Ngài không chứng quả Phật để an vui tự tại nơi cõi Niết-Bàn, mà Ngài vẫn hiện thân Bồ-Tát, phân điển quang khắp cõi Ta-Bà, tầm thinh cứu khổ và tận độ chúng-sanh.
Trong Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa, Phẩm Phổ-Môn có dạy rằng: Công đức của người thọ trì danh hiệu vô số các Ðức Phật và công đức của người thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát so sánh đồng nhau. Hễ ai thành tâm thọ trì danh hiệu và thờ kính Ngài thì sẽ được vô lượng phước đức và sẽ được Ngài chở che, cứu giúp qua khỏi các tai nạn. Cũng trong Phẩm Phổ-Môn, ai thọ trì danh hiệu đức Quán-Thế-Âm thì cầu chi được nấy (nếu việc đó không trái với đạo-lý).
Trong Kinh Ðịa-Tạng, phẩm 12, Ðức Thế-Tôn Thích-Ca Mâu-Ni Phật có khen ngợi rằng: vì Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có nhân duyên lớn với cõi Ta-Bà nầy, nên tất cả các chúng-sanh hoặc Thiên, hoặc Long, hoặc nam, hoặc nữ, hoặc Thần, hoặc quỷ, cho đến chúng-sanh tội khổ trong sáu nẻo luân-hồi, hễ nghe danh hiệu của Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thấy hình ảnh Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, luyến mộ và tán thán công đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì những chúng-sanh ấy đối với đạo-quả Ðại-Bồ-Ðề đều không thối chuyển, thường sanh vào các cõi Trời, cõi người, hưởng phước vui mầu nhiệm, và khi nhân quả thành thục rồi thì gặp Phật thụ ký cho...
Trong Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, quyển 6, vào thời quá khứ cách nay hằng hà sa số kiếp, có một vị Bồ-Tát sở trường phép tu Tam-Muội về Nhĩ-căn viên-thông với danh hiệu là Quán-Thế-Âm (nghĩa là quán sát âm thanh kêu cầu mà cứu). Vì vậy cho nên trải qua các kiếp tu hạnh Bồ-Tát, Ngài vẫn giữ danh hiệu Quán-Thế-Âm.
Kinh Thiên-Thủ Thiên-Nhãn Ðại-Bi-Tâm Ðà-La-Ni có chép rằng: Ðại oai thần lực của Bồ-Tát Quán-Thế-Âm không thể nào suy xét bàn luận được. Ngài có phát lời thệ nguyện rằng: "Nếu tôi về đương lai có thể làm nổi những việc lợi ích an lạc cho tất cả chúng-sanh thì ngay bây giờ đây thân tôi hãy phát sanh đủ ngàn tay và ngàn mắt". Quả như vậy, Ngài phát lời thệ nguyện vừa xong thì hiện đủ ngàn tay, ngàn mắt. Chính vì vậy mà Ngài còn có danh hiệu là "Thiên thủ thiên nhãn Quán-Thế-Âm Bồ-Tát". Ðức Phật Thích-Ca có dạy ngài A-Nan rằng: "Quán-Thế-Âm Tự-Tại Bồ-Tát có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng-sanh. Ðó cũng do tâm Ðại-Bi của vị Ðại-Sĩ ấy hóa hiện". Và còn rất nhiều kinh điển ca ngợi hạnh nguyện công đức của Ngài không thể kể xiết.
Từ xưa tới nay, tất cả nhân sanh có tín ngưỡng đều nhận biết và ghi nhớ công đức cứu thế độ đời vô lượng vô biên của Ðức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát. Sau biến cố 1975, nhân dân Việt-Nam trên bước đường vượt biên tìm tự do, với lòng thành tín đối với Quan-Thế-Âm Bồ-Tát đã cảm nhận được ân đức cứu khổ cứu nạn của Ngài hơn bao giờ hết.
Ngoài phần cứu giúp về mặt hữu hình, Ðức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát còn trợ giúp về mặt tâm linh cho nhơn sanh trên bước đường tu học. Ðặc biệt nhứt là trong thời kỳ Thượng-Ðế lập Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ nầy, Ðức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát lãnh trọng trách vô cùng quan trọng, đại diện Phật-Giáo trong hàng Tam-Trấn Oai-Nghiêm. Trong khuôn khổ Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, Ngài giáng cơ dạy rất nhiều, tùy theo căn trí, hoàn cảnh và trình độ của nhơn sanh mà dạy dỗ bằng những lời vàng ngọc dịu dàng tha thiết, dễ hiểu, dễ hành, đượm lòng từ ái vô biên. Các bài Thánh-Giáo của Ngài vô cùng phong phú, siêu diệu và minh triết, thích hợp cho đủ mọi căn cơ và trình độ.
Tóm lại, Ngài ban bố từ ân ngập tràn thế giới, vừa tầm thinh cứu khổ, vừa hoán cải mê tân, vừa hộ thần dìu dắt cho những người tu niệm. Mặc dù là một vị Như-Lai, một vị Cổ-Phật, quyền uy vĩ đại, pháp lực vô biên, nhưng Ngài lập đại-nguyện cứu độ chúng sanh đời đời kiếp kiếp nên Ngài không an vị tự tại nơi cõi Tây-Phương Cực-Lạc Niết-Bàn, mà vẫn luôn luôn ở cương vị của một Bồ-Tát đa năng, đa công, đa hạnh để tận độ chúng sanh hữu tình.
Mặc dù đạo quả đã vượt mức tối cao, tối thượng, vô cực, vô biên, không âm, không dương, không nam, không nữ, nhưng Ngài vẫn giữ cốt cách một Bà Mẹ nhân từ phúc hậu rất gần gũi với nhơn sanh, với lòng Ðại-Từ Ðại-Bi sâu dày lớn rộng để thể hiện quyền năng, pháp lực, và công đức cứu đời không mệt mõi của Ngài từ vô lượng kiếp cho tới bây giờ.
Ôi! Công đức của Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thật là vô lượng, hạnh nguyện của Ngài thật là vô biên, thần thông diệu dụng của Ngài không thể nghĩ bàn.

12 Đại Nguyện Của Quán Thế Âm Bồ Tát

Nguyện Thứ Nhất
Khi thành Bồ Tát
Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm
Mười hai lời nguyện cao thâm
“Nghe tiếng cứu khổ” Quán Âm thề nguyền.
(Được xưng tặng là hiểu biết đầy đủ thông dong hoàn toàn, Ngài đem pháp tu hành mà khuyên độ khắp cùng).

Nguyện Thứ Hai
Không nài gian khổ
Quyết một lòng cứu độ chúng sanh
Luôn luôn thị hiện biển đông
Vớt người chìm đắm, khi dông gió nhiều.
(Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài nguyện thường ở biển phương Nam (Nam Hải)để cứu độ chúng sanh).

Nguyện Thứ Ba
Ta Bà ứng hiện
Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau
Oan oan tương báo hại nhau
Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền.
(Luôn ở cõi Ta Bà và cõi U-Minh, Ngài cứu độ kẻ nào kêu cầu tới Ngài).

Nguyện Thứ Tư
Hay trừ yêu quái
Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê
Độ cho chúng hết u mê
Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương.
(Trừ khử loài tà ma, yêu quái, Ngài có đủ sức cứu người gặp nguy hiểm).

Nguyện Thứ Năm
Tay cầm Dương Liễu
Nước cam lồ rưới mát nhân thiên
Chúng sanh điên đảo, đảo điên
An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan.
(Ngài nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới tắt lửa lòng của chúng sanh).

Nguyện Thứ Sáu
Thường hành bình đẳng
Lòng từ bi thương xót chúng sanh
Hỷ xả tất cả lỗi lầm
Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài.
(Thương xót người đói và sẵng lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả đều coi như nhau).

Nguyện Thứ Bảy
Dứt ba đường dữ
Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh
Cọp beo . . ., thú dữ vây quanh
Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn.
(Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh).

 Nguyện Thứ Tám
Giải thoát còng la
Nếu tội nhân sắp bị khảo tra
Thành tâm lễ bái thiết tha
Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng.
(Nếu ai quay về núi hướng nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi).

Nguyện Thứ Chín
Cứu vớt hàm linh
Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh
Bốn bề biển khổ chông chênh
Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn.
(Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi cùng trong biển khổ để độ hết chúng sanh).

Nguyện Thứ Mười
Tây Phương tiếp dẫn
Tràng hoa thơm, kỹ; nhạc, lộng tàn
Tràng phan, bảo cái trang hoàng
Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây.
(Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân này thì sẽ có phướng dài đi trước, tàng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương).

Nguyện Thứ Mười Một
Di Đà thọ ký
Cảnh Tây Phương, tuổi thọ khôn lường
Chúng sanh muốn sống miên trường
Quán Âm nhớ niệm, Tây Phương mau về.
(Ở giới của Đức Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà), Ngài đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó).

Nguyện Thứ Mười Hai
Tu hành tin tấn
Dù thân nầy tan nát cũng đành
Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành
Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.
(Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai lời nguyện lớn ấỵ).

https://phatphap.files.wordpress.com/2007/09/banhxe_5477.gif

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

TÔN GIẢ BẠC CÂU LA.

https://lh3.googleusercontent.com/--RupQbnCsY4/WJHzuYmJHcI/AAAAAAADjsc/0XjWXgGV_DYQz3S7eHr_ECC3II8LZZMEACJoC/w795-h927/1456359897.gif

Vua A Dục sau khi tin  kính Tam bảo, được  Tôn giả Da-xá giới thiệu Tôn giả Ưu-Ba-Cúc-Đa là người chứng A-la-hán đã lâu, hiện đang thuyết pháp cho đại chúng tại núi Ưu-đà. Vua liền sửa soạn xe kiệu để đến đó lễ bái. Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa nghĩ thầm:

- Chỗ của ta nhỏ hẹp, không chứa được nhiều người, ta nên đến chỗ quốc vương thì phải hơn.
Thế là Tôn giả đến thành Hoa Thị. Đức vua hay tin vô cùng hoan hỷ, ra lệnh cho dân chúng quét dọn đường sá, thắp hương, rải hoa, thổi kèn tấu nhạc và chính mình đích thân cùng quần thần ra tiếp đón Tôn giả. Vừa gặp ngài, vua liền sụp lạy, chí thành chiêm ngưỡng không rời mắt. Vua nói:
- Đại Thánh, con tuy thân làm vua được tự tại khoái lạc, nhưng chưa bao giờ vui bằng được gặp Tôn giả hôm nay.
Vì quá cao hứng, vua bèn nói kệ:
Phật tuy nhập tịch định
Ngài nay bổ xứ sanh
Giờ mong nghe giáo pháp
Con sẽ tùy thuận học.
Tôn giả rờ đầu vua, đáp kệ:
Cần cẩn trọng chớ nên phóng dật,
Vương vị phú quý khó bảo toàn.
Tất cả rồi sẽ đều hoại diệt,
Không gì thường trụ mãi thế gian.
Tam bảo khó gặp, vua nay gặp,
Phải cúng dường hoài chớ bỏ quên.
Vua thỉnh Tôn giả vào cung, tự nâng ngài lên tòa báu, thưa rằng:
- Đại Thánh, những nơi Phật từng dừng ở và đi qua, con đều muốn xây tháp, để tăng trưởng niềm tin của chúng sanh.
Tôn giả khen ngợi:
- Lành thay! Lành thay! Bây giờ ta sẽ dẫn vua đi xem những nơi ấy.
Vua bèn thống lãnh bốn bộ binh đồng loạt lên đường cùng Tôn giả. Bắt đầu từ vườn Lâm-tì-ni nơi Phật đản sanh thẳng đến thành Câu-thi-na nơi Phật nhập diệt. Sau khi nghe đến sự tích Phật Niết-bàn, vua đau khổ té xỉu, phải dùng nước lạnh rưới vào mặt mới tỉnh lại. Vua bèn xây tháp ở từng nơi và bố thí trăm ngàn lượng vàng, sau đó mới rời chỗ.
Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa lại kể cho vua nghe về những tháp xá lợi của năm trăm A-la-hán. Vua cũng đều lễ bái, cúng dường vàng ròng. Cuối cùng đến tháp của Tôn giả Bạc-câu-la, vua nói:
- Tháp này có công đức gì không?
Tôn giả đáp:
- Đại vương! Đức Phật nói vị này không hề bệnh tật, vì trước chín mươi mốt kiếp, sau thời Phật Tỳ-bà-thi nhập diệt, Bạc-câu-la trú trong một ngôi chùa thấy những người giàu có quý tộc đến chùa cúng dường chúng Tăng. Lúc ấy, ông uống rượu say, đang nằm trên giường, nghĩ bụng: “Ta rất nghèo khó, nên bố thí gì bây giờ? Ta vừa có được một trái ha-lê-lặc, có thể trị bệnh mắt, đau đầu hoặc bí tiểu. Nếu chúng Tăng có ai mắc bệnh, ta có thể bố thí để trị bệnh”. Tôn giả bèn đánh kiền chùy, báo muốn bố thí dược phẩm. Bấy giờ có một Tỳ-kheo đầu rất đau, đến xin trái ha-lê-lặc để trị bệnh. Người khán bệnh liền đem trái ha-lê-lặc của Bạc-câu-la đưa cho Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo dùng xong, lành bệnh. Nhân cớ này, trong suốt chín mươi mốt kiếp, Bạc-câu-la dù sanh trên trời hay trong nhân gian đều không hề bệnh tật.
Kiếp cuối cùng này, ông sanh trong nhà Bà-la-môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ kế. Bạc-câu-la còn thơ, thấy mẹ kế làm bánh liền đòi. Mẹ kế vốn tánh tình không tốt, rất ghét con chồng, đem Bạc-câu-la bỏ vào lò chiên bánh, lửa cháy rất mạnh, bà còn lấy chảo chiên bằng đáy đặt lên trên. Người cha từ ngoài về, kiếm con khắp nơi chẳng ra, cuối cùng mới biết đang ở trong lò. Dĩ nhiên chú bé không hề hấn gì.
Về sau,  có lần mẹ kế đang nấu thịt, Bạc-câu-la lại đến đòi ăn. Mẹ kế tức giận, quăng chú vô nồi. Nước trong nồi sôi sục nhưng không cách gì làm chú nát nhừ. Người cha lại tìm khắp nơi không thấy phải lớn tiếng kêu:
- Con trai ta ơi! Con ở đâu?
Bạc-câu-la ở trong nồi ứng tiếng đáp, người cha mới vội vàng kéo con ra, mà chú chẳng bị thương chút nào. Cuối cùng, một hôm mẹ kế ra bờ sông, Bạc-câu-la lại nắm chéo áo bà chạy theo. Người mẹ giận quá, nói:
- Mày rốt cuộc là yêu quái gì mà đốt mà nấu không chịu chết hử?
Rồi ném chú xuống sông. Chưa bao lâu, một con cá lớn bơi tới nuốt chú vào bụng. Do có phước báo, chú không chết.
Một người đánh cá câu được con cá này, mang ra chợ bán. Nhưng vì đòi giá quá cao, chẳng ai mua được. Đến chiều, cá sắp ươn thì vừa gặp cha Bạc-câu-la ra chợ. Thấy cá, ông bèn nghĩ: “Con cá này nhiều thịt mà lại sắp ươn, chắc không đắt lắm, ta có thể mua về”. Rồi ông trả tiền, đem cá về nhà.
Về đến nhà, ông lấy dao bén mổ bụng cá. Bạc-câu-la trong bụng cá kêu to:
- Cha! Cẩn thận nha! Đừng làm con bị thương đó!
Người cha mừng quá, mổ bụng cá ôm con ra.
Bạc-câu-la lớn lên theo Phật xuất gia, chứng quả A-la-hán, đầy đủ công đức, sống đến một trăm sáu mươi tuổi mà chẳng hề bệnh hoạn, dù chỉ đau đầu hay cảm sốt. Ngài là người rất tri túc, rất ít mong cầu, thích sống an nhàn, vắng lặng, không dạy ai một câu kệ.
Vua nghe chuyện của ngài rồi, chỉ cúng tháp ngài một đồng tiền. Quan tể tướng ngạc nhiên hỏi:
- Năm trăm vị đều là A-la-hán, vì sao chỉ cúng vị này có một đồng?
Vua đáp:
- Vì ông ta chỉ tự độ mà không độ người.
Kết quả tháp thần cũng không chịu nhận đồng bạc cúng dường này, trả lại cho vua. Tể tướng nói:
- Thật là thiểu dục! Ngay một đồng cũng không nhận, huống là nhiều tiền.
Vua A Dục cúng dường tháp Phật và chư Thanh văn xong, rất hoan hỷ chắp tay nói kệ:
Cúng dường tế tự trăm ngàn lần,
Mới đủ sanh làm người thế gian.
Nay ta đã được làm người sẵn,
Chẳng nên để đời người qua suông.

Ta may gặp ruộng phước quý báu,
Nhân đây tu tạo nghiệp tốt lành.
Đem tài sản không bền nguy hiểm,
Tu tạo phước kiên cố trường tồn.

Ta xây tháp xá lợi của Phật,
Để cõi Diêm Phù được trang nghiêm.
Giống như trời bềnh bồng mây trắng,
Dùng làm đẹp đẽ cõi hư không.

Vua nói kệ xong, đảnh lễ tháp của chư Thánh nhân rồi đi./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét